Tại sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viết biểu ý (ký tự – character) từ Nôm tự (quốc ngữ xưa) sang hệ thống chữ viết biểu âm (chữ cái – letter) dùng chữ cái La tinh (quốc ngữ nay) trong khi các quốc gia đồng văn khác như Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên hay Hàn Quốc) thì không?
A. Trước hết, tôi xin được điểm qua một cách khái quát về hệ thống chữ viết.
Trên thế giới, có nhiều hệ thống chữ viết khác nhau, nhưng tựu chung lại chỉ có hai hệ thống: chữ biểu âm và chữ biểu ý.
Trong hệ thống chữ biểu âm, mỗi biểu tượng (symbol) hoặc ký hiệu (notation) còn được gọi là ký tự (character), nhưng các ký tự in được (printable character) được sử dụng để đại diện cho mỗi âm hay âm vị còn được gọi là chữ cái (letter). Chẳng hạn như chữ Latin, chữ Ả Rập, chữ Hindu, hiragana (平假名 Bình giả danh) và katakana (片假名 Phiến giả danh) của Nhật Bản. Bảng chữ cái (alphabet) của một số hệ thống chữ viết biểu âm là cơ sở để dựa vào đó con người diễn đạt tiếng nói thành từ (word), cụm từ (phrase). Sau đây là các bảng chữ cái tiêu biểu của một số hệ thống:
Latinh: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z.
Hy Lạp: Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν, Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω.
Hebrew: (đọc từ phải sang trái) א, ב, ג, ד, ה, ו, ז, ח, ט, י, כ, ל, מ, נ, ס, ע, פ, צ, ק, ר, ש, ת.
Đọc tiếp Tại·sao chỉ có Việt Nam đổi hệ·thống chữ·viết biểu·ý sang hệ·thống chữ·viết dùng chữ·cái La·tinh?